Mối quan hệ giữa bệnh thận và tăng huyết áp

Mối quan hệ giữa bệnh thận và tăng huyết áp

Chia Sẻ Qua

Những nguy cơ của tăng huyết áp trong đó có bệnh lý thận, tăng huyết áp gây ra tổn thương thận tuy nhiên những tổn thương thận cũng gây ra tăng huyết áp. Vậy tăng huyết áp gây ra bệnh thận hay bệnh thận gây ra tăng huyết áp.

Mối quan hệ giữa bệnh thận và tăng huyết áp

Thận nhận khoảng 25% lưu lượng máu từ tim ra. Đây không phải một lượng máu nhỏ nên sẽ không tránh khỏi những vấn đề xảy ra với thân và sự phản hồi ngược trở lại hệ tim mạch là điều đương nhiên.

Sự tác động của huyết áp lên thận

  • Làm xuất hiện protein trong nước tiểu dạng vi thể (albumin niệu vi thể). Khi thận bị tổn thương màng lọc cầu thận không còn giữ được sự chắc chắn mà dẫn đến những thành phần vi thể đó bị lọt ra khỏi máu.
  • Trường hợp nặng hơn là gây xơ vữa động mạch thận, khi đó động mạch thận bị xơ chai và hẹp dần lại. Nếu chỉ số huyết áp của bạn khoảng 180mmHg thì nguy cơ hẹp mạch máu thận sẽ tăng dần theo thời gian. Hậu quả cuối cùng của tác động huyết áp là suy thận mạn mà giải pháp điều trị cuối cùng là thay thận.

>>> máy đo huyết áp cơ

Tác động ngược của thận lên huyết áp

  • Bất cứ thay đổi nhỏ trong chức năng thận cũng sẽ làm cho huyết áp biến động. Một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tăng huyết áp chính là hẹp động mạch thận.
  • Và hầu như những biến đổi bệnh lý ở thận đều có sự gia tăng huyết áp. Trong các triệu chứng như viêm cầu thận cấp, viêm cầu thận mạn, hội chứng thận hư, suy thận đều có tăng huyết áp. Chính vì vậy khi điều trị bệnh thì luôn ưu tiên phải kiểm soát huyết áp trước.

Một vài bệnh lý thận dễ gây tăng huyết áp

Những dạng bệnh này không tập trung vào vấn đề tổn thương thận khi có huyết áp gia tăng.

Bệnh hẹp động mạch thận

  • Đây là bệnh dễ gây tăng huyết áp nhất của thận. Cơ chế gây tăng huyết áp của hẹp động mạch thận là do lưu lượng máu qua thận giảm đáng kể. Bộ phận cận tiểu cầu của thận làm tăng tiết aldosterol (một chất có tác dụng tăng hấp thu muối và nước), tăng tổng hợp angiotensin (chất làm co mạch ngoại vi) do đó huyết áp tăng.
  • Huyết áp tăng lên thật chất là để duy trì lực tống máu bình thường và đủ máu đưa đến thận, nhưng khi lượng máu đủ tới thận thì huyết áp đã tăng quá cao.
  • Nguyên nhân gây hẹp động mạch thận là do xơ vữa động mạch (gặp chủ yếu ở người cao tuổi), phình bóc tách động mạch thận, viêm động mạch thận.

>>> máy đo huyết áp tại nhà

Bệnh viêm cầu thận

  • Có hai loại là viêm cầu thận cấp tính và viêm cầu thận mạn tính. Ở cả hai dạng cầu thận đều bị thoát protein ra nước tiểu mức độ nhiều.
  • Nguyên nhân chủ yếu của những chứng bệnh này hoặc là do phức hợp kháng nguyên kháng thể của liên cầu tan máu nhóm A hoặc là do rối loạn miễn dịch.
  • Tỷ lệ bị tăng huyết áp trong viêm cầu thận vào khoảng 50-54%, nghĩa là có trên một nửa số bệnh nhân bị viêm cầu thận có tăng huyết áp.
  • Cơ chế gây tăng huyết áp là do nó làm tắc “động mạch đi” ở trong thận, kích thước thận bị thay đổi, làm sưng phồng các tiểu cầu thận. Động mạch đi bị hẹp dần tác động động kích hoạt lên bộ máy cận tiểu cầu và huyết áp gia tăng.

Bệnh thận đa nang

  • Có khoảng 74% người bệnh thận đa nang có triệu chứng tăng huyết áp. Thận đa nang làm huyết áp tăng cao và kịch phát ngay từ giai đoạn đầu chứ không diễn ra từ từ như những bệnh tăng huyết áp khác và chủ yếu tăng huyết áp tâm trương (tăng huyết áp tối thiểu). Bệnh thận đa nang trở nên nguy hiểm, nhanh dẫn đến suy thận và khó giải quyết nếu không được chẩn đoán sớm.
  • Nếu tăng huyết áp tâm trương nặng ngay từ đầu cần được bằng siêu âm.

Protein niệu vi thể

  • Những giả thuyết đặt ra là khi có protein niệu vi thể có nghĩa mạch máu đang bị tổn thương. Chúng sẽ bị thay đổi tính thấm với các thành phần trong máu làm lọt protein ra ngoài, thành mạch bị xơ cứng và dẫn đến huyết áp tăng.
  • Nhiều trường hợp, protein niệu vi thể sẽ xuất hiện trong bệnh đái tháo đường, nhưng cũng có khi người bệnh chẳng có những bệnh chuyển hoá, tim mạch hay đái tháo đường thì vẫn có protein niệu vi thể.
  • Bệnh protein niệu vi thể sẽ nhanh chóng dẫn đến suy thận, thường là 2 năm.

Bệnh viêm bể thận mạn tính

  • Biểu hiện giống như nhiễm trùng đường niệu, nổi bật là gây sốt, đau bụng, đái buốt, đái dắt, căng tức bên hông.
  • Thực tế viêm bể thận mạn tính có thể điều trị được, bằng cách loại bỏ sỏi và dùng kháng sinh hợp lý, nhưng tăng huyết áp đi từ viêm bể thận mạn thì lại tiến triển và có xu hướng diễn tiến không ngừng.

Tham khảo: suckhoedoisong.vn

NO COMMENTS

LEAVE A REPLY